Home / Chuyện xưa tích cũ / Lưu danh thiên cổ

Lưu danh thiên cổ

Lưu danh thiên cổ

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, vào năm 1795, Võ Văn Dũng từ Bắc Hà về Phú Xuân bắt Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ và Ngô Văn Sở dìm xuống sông Hương. Năm 1799, bị bọn gian thần Trần Văn Kỷ, Trần Viết Kiết, Hồ Công Diệu sàm tấu, Trần Quang Diệu kéo quân từ Quy Nhơn về Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh phải cầu cứu đến Bùi Thị Xuân.

Bùi nữ tướng đến gặp chồng và vợ chồng bàn với nhau: Mối họa trong triều chỉ do bọn gian thần gây nên. Tận diệt bọn ấy thì mối giềng lập lại không đến nỗi khó.

Sau đó, Quang Diệu tâu xin vua diệt bọn Kỷ, Kiết, Công Diệu rồi mới kéo quân vào Nam. Cuối năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh kéo thủy binh ra đánh Phú Xuân. Quân Nguyễn vào cửa Tư Dung, tướng Tây Sơn là phò mã Nguyễn Văn Trị, em rể vua Cảnh Thịnh đem quân ra Quy Sơn lập đồn chống cự. Tiền quân Nguyễn không tiến được. Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem quân lén đánh tập hậu, lưỡng đầu thọ địch, Văn Trị không chống nổi, bỏ đồn thoát thân. Thủy binh nhà Nguyễn vào cửa Thuận An rồi kéo lên đánh thành Huế. Vua Cảnh Thịnh phải thân chinh chống địch. Tướng tài không còn ai, Bùi nữ tướng phải đem nữ binh và tượng binh theo hộ giá. Hai bên đánh nhau từ sáng đến trưa thì quân Tây Sơn tan rã. Bùi nữ tướng vừa chỉ huy nữ binh vừa điều khiển tượng binh, khi thủ khi công, tả xông hữu đột mới bảo vệ vua Cảnh Thịnh được an toàn. Nhưng liệu thế không trì thủ được nữa, nữ tướng bèn phò vua chạy vào thành.

Xem thêm:  Tứ đức xưa và nay

Trong thành, các đình thần võ cũng như văn đều đem gia đình bỏ trốn. Nữ tướng bèn thúc quân mở cửa hậu phò vua cùng thái hậu và cung quyến chạy ra Bắc. Lê Chất đem kỵ binh đuổi theo. Nữ tướng truyền nữ binh phò ngự giá đi trước, còn mình thì quay lại điều khiển trượng binh ngăn chặn quân truy kích.

Bầy voi lúc trước ở thành Phú Xuân vì lo bảo vệ vua nên chỉ giữ thế thủ, lúc này được dịp chiến đấu nên mặc sức tung hoành. Cả đàn thét lên vang dậy, rồi xông vào đoàn ngựa đang rầm rộ chạy đến. Trước đàn voi hung dữ, ngựa thất kinh lồng lên, hí vang trời, rồi quay mình bỏ chạy. Quân Nguyễn không đánh mà tan. Lê Chất vội quay ngựa chạy về thành Phú Xuân. Bùi nữ tướng cũng thu voi chạy theo ngự giá.

Tháng 5 năm 1801, đoàn quân Cảnh Thịnh do Bùi nữ tướng hộ giá qua sông Linh Giang. Đến Thanh Hóa có Nguyễn Quang Thùy đón rước về Bắc thành. Hạ tuần tháng 5 năm ấy, Cảnh Thịnh đổi niên hiệu là Bửu Hưng. Tháng 11, nhà vua giao Bắc thành cho hai em là Quang Thiệu và Quang Khanh, sai Nguyễn Quang Thùy vào trấn Nghệ An rồi đích thân kéo quân trấn xứ Bắc và Thanh Hóa, Nghệ An. Non 3 vạn người đến Linh Giang, nữ tướng Bùi Thị Xuân đem 5.000 thủ hạ theo hộ giá.

Tháng Giêng năm 1802, Nguyễn Quang Thùy và Tổng Quản Siêu được lệnh tiến quân lên đánh Trấn Ninh. Đô đốc Nguyễn Văn Kiên và Tư Lệ Tiết tiến đánh Đâu Mâu. Thiếu úy Đặng Văn Tất và Đô đốc Lực đem 100 chiến thuyền trấn ngang cửa sông Nhật Lệ. Trấn Ninh, Đâu Mâu, Nhật Lệ đều thuộc tỉnh Quảng Bình. Đó là ba căn cứ quân sự rất trọng yếu ở địa đầu trấn Thuận Hóa.

Xem thêm:  May và rủi

Núi Đâu Mâu ở phía Tây huyện Phong Lộc, tọa lạc tại xã Lê Kỳ, núi gò trùng điệp, cây cối sầm uất, đỉnh núi cao nhọn như mão đâu mâu; khí thế hùng vĩ, chân núi gối sông Nhật Lệ. Lũy Đâu Mâu do Chúa Nguyễn đắp để ngăn quân Trịnh, chạy dài dưới chân núi. Lũy Đâu Mâu đã kiên cố lại được phòng vệ nghiêm túc, đánh mãi không hạ nổi. Vua Bửu Hưng bèn tập trung tất cả binh mã tấn công Đâu Mâu. Quân trong lũy dùng súng đại bác bắn xuống và lấy đá lớn ném xuống chân thành. Quân Tây Sơn lớp chết, lớp bị thương rất nhiều. Vua Bửu Hưng hoảng sợ tỏ ý muốn rút chạy. Bùi nữ tướng lên tiếng can ngăn, xin cho được đích thân đốc chiến.

Nhận thấy tại những chỗ đặt súng thì không có đá lăn xuống và súng không thể bắn gần liên tiếp, nên Bùi nữ tướng bèn nhanh nhẹn nhảy vào chân thành, nơi không có đá ném xuống. Các nữ binh noi gương nữ tướng, đồng loạt nhảy vào chân thành, chuyền lên vai nhau làm thang leo lên mặt thành. Lính bắn súng bất ngờ bị tấn công nên vội vàng bỏ chạy. Quân Tây Sơn đồng loạt dùng phương pháp “chuyền vai” xông lên mặt thành đánh xáp lá cà.

Lời bàn:

Theo sử cũ, trong hàng tướng lĩnh của vua Quang Trung cũng có khá nhiều nữ tướng tài ba. Nổi bật hơn cả là 5 vị và thường được người đương thời gọi là “Tây Sơn ngũ phụng thư”. Đó là Bùi Thị Xuân, vợ Thiếu phó Trần Quang Diệu; Bùi Thị Nhạn là một trong số vợ của chủ tướng Nguyễn Huệ (về sau là vua Quang Trung); Trần Thị Lan, là vợ của Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết; Huỳnh Thị Cúc, nữ tướng dưới quyền của Bùi Thị Xuân; Nguyễn Thị Dung, là vợ của tướng Trương Đăng Đồ. Tất cả họ đều sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của trăm họ.

Xem thêm:  Chuyện về Trạng Chiếu

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra rất nhiều nữ tướng anh hùng hào kiệt, bất khuất và không ít người trong số đó đã trở nên bất tử với cái chết trung liệt của mình được đời đời tôn vinh, kính ngưỡng. Và nhắc lại lịch sử của các vị nữ tướng thời Tây Sơn, để hậu thế thấy rõ hơn về truyền thống anh hùng bất khuất của phụ nữ Việt Nam, từ Bà Trưng, Bà Triệu đến nay, thời nào cũng sản sinh những nữ dũng tướng tài ba.

Theo Baihocdoisong.com

Check Also

Xử án như thần

Xử án như thần

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Mại là người xã Ninh Xá, …