Home / Chuyện xưa tích cũ / Oan án Lê Lăng

Oan án Lê Lăng

Oan án Lê Lăng

Theo sách “Đại Việt thông sử” Lý Triện là một trong những vị công thần khai quốc của nhà Lê sơ. Ông là người làng Bái Đôi, huyện Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa. Với chiến tích ở trận Tốt Động, Chúc Động, sử gia Ngô Sỹ Liên cho rằng ông cùng Đinh Lễ đứng đầu trong các tướng giỏi của nghĩa quân Lam Sơn.

Lý Triện tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ ngày đầu, giúp Lê Lợi trong thời gian khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa. Năm 1418, tướng Minh là Lý Bân và Phương Chính mang quân qua Quỳ Châu vào Mường Thôi đánh quân Lam Sơn. Lý Triện cùng Lê Lý, Phạm Vấn mang quân ra chặn địch, phối hợp với quân chủ lực của Lê Lợi phục binh đánh bại quân Minh ở Bồ Mộng.

Năm 1422, quân Minh huy động thêm quân nước Ai Lao (Lào) hai đường đánh tới, Lê Lợi rút về Sách Khôi. Quân địch dồn đại binh kéo tới bao vây. Lý Triện được lệnh cùng Lê Lĩnh, Phạm Vấn mang quân ra tử chiến, chém được tướng địch là Phùng Quý và hơn 1.000 quân, bắt được hơn 100 ngựa. Mã Kỳ và Trần Trí thua chạy về Đông Quan (Hà Nội), quân Ai Lao cũng bỏ chạy. Năm 1423, quân Lam Sơn bị địch vây tuyệt lương mấy tháng. Lý Triện vẫn theo sát Lê Lợi tuần tra vỗ về tướng sĩ không hề trễ nải.

Tháng 2-1427, tướng nhà Minh là Phương Chính đem quân đánh úp động Quả ở Từ Liêm. Lý Triện và Đỗ Bí cố sức đánh nhưng bị thua trận. Lý Triện tử trận, còn Đỗ Bí bị bắt. Thương Lý Triện nhiều lần phá được giặc mạnh, Lê Lợi cho cha ông là Lý Ba Lao làm chức sát sứ, cấp 400 mẫu ruộng, con ông là Lý Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Phục hầu, đều được đổi sang họ Lê. Sau Lê Lăng trở thành đại thần nhà hậu Lê.

Lý Lăng là con của danh tướng Lý Triện và do Lý Triện được ban quốc tính là họ Lê nên sử vẫn thường chép họ tên của hai cha con ông là Lê Triện và Lê Lăng. Lý Lăng bắt đầu sự nghiệp từ năm 1427. Trong “Đại Việt thông sử” (mục Chư thần truyện), Bảng nhãn Lê Quý Đôn đã có hẳn một đoạn viết về Lý Lăng như sau: Khởi đầu, vì Lê Lăng là con của tướng có nhiều công lao là Lê Triện nên mới được vua dùng. Ông ra vào trận mạc, cũng lập được chiến công.

Khoảng năm Thái Hòa (khoảng từ năm 1443-1453), đời vua Lê Nhân Tông, ông được phong làm Nhập nội Thiếu úy và được tham dự triều chính. Khi Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân giết vua và cướp ngôi, Lê Lăng làm Nhập nội Thiếu úy, Bình Chương Quân quốc Trọng sự, tước Á Thượng hầu. Ông cùng quan Thái phó Đinh Liệt và Nguyễn Xí, quan Xa Kỵ Tổng tri Lê Niệm mưu việc nghĩa, giết bọn Phạm Đồn và Phan Ban rồi truất phế (Lê) Nghi Dân và rước Thánh Tông lên ngôi.

Năm Quang Thuận thứ nhất (năm 1460), do có công tôn lập, ông được vua Lê Thánh Tông gia hàm Thái bảo, lại còn ban cho 300 mẫu ruộng thế nghiệp. Về sau, vua sai ông cùng Đinh Liệt đi đánh Man Cầm. Năm 1561, vua sai quan Chánh chưởng Nguyễn Lỗi đem đến ban cho ông bạc lạng và một tờ sắc dụ, đại để nói rằng: Ngươi nên thận trọng giữ gìn, trước sau như một và phải giữ đức thanh liêm, công bằng.

Về sau, ông được phong tới hàm Thái úy. Tháng 8-1462, có người tố cáo rằng, Lê Lăng cùng với Đỗ Công Thích ngầm làm phản, họ lại còn tố cáo Á hầu Lê Nhân Thuận lập bè đảng để che mắt nhà vua. Vua giận lắm, sai bắt giết hết, tịch thu gia sản, đồng thời đem tội trạng của Lê Lăng tố cáo đến khắp mọi nơi. Nguyên xưa, khi Lê Lăng giết xong bọn nghịch đảng, vì thấy trong hàng con thứ của vua Lê Thái Tông còn có Cung Vương Khắc Xương là lớn hơn cả nên có ý lập làm vua. Nhưng khi ấy Nguyễn Xí không bằng lòng nên lập Lê Tư Thành lên làm vua. Về sau, vua Lê Thánh Tông biết được chuyện đó nên sinh ra ghét bỏ Lê Lăng. Hơn nữa, khi ấy Lê Lăng vốn là quan giữ chức Phụ chính mà tính cứng rắn, nhà vua cũng có ý ngại, vẫn thường nói rằng: Ta thường thấy không được an lòng.

Xem thêm:  Gương hiếu nghĩa

Nhân đó, nhà vua mới giết Lê Lăng. Về sau, nhà vua biết nhiều người không phục mình nên mới tự viết tờ chiếu, sai bọn Thái bảo là Nguyễn Lôi đem tội trạng kiêu sa của bọn Lê Lăng và Lê Nhân Thuận kể rõ cho quần thần hay. Nhưng khi ấy mọi người trong triều đình vẫn không ai tin mà cho rằng Lê Lăng bị oan, song chẳng ai dám nói ra.

Lời bàn:

Người xưa có câu rằng “Làm bạn với vua chẳng khác nào làm bạn với hổ dữ”. Với những ai thì không biết, nhưng với những đại thần và tất cả đều là khai quốc công thần như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả, Lê Lăng nhà hậu Lê ở thế kỷ XV, thì câu nói trên hoàn toàn đúng. Thế mới hay rằng dưới thời phong kiến, vua tuy không sinh ra thần dân nhưng lại có quyền cho ai sống thì người đó được sống, bắt ai chết thì ắt người đó không thể tồn tại trên cõi đời, dù đó là công thần. Bởi lẽ “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” và với người quân tử ngày xưa thì thà là chết chứ không ai chịu tiếng bất trung.

Điều đáng buồn cho Lê Lăng là mặc dù bị kết tội rồi bị giết oan, nhưng sau nhiều năm ông vẫn không được triều đình nhà Lê khi ấy minh oan hay đại xá như các đại thần bị hại đời trước như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả. Tuy nhiên, nhân dân mới là người viết lên lịch sử và lịch sử là sự thật và đã là sự thật thì không ai có thể phủ nhận dù hàng trăm năm đã trôi qua. Việc người đương thời cũng như hậu thế tôn vinh ông là danh tướng tài ba, bậc khai quốc công thần của triều Lê sơ cũng là cách trả lại những gì vốn thuộc về ông.

Theo Baihocdoisong.com

Xem thêm:  Đạo đức và lễ giáo

Check Also

Xử án như thần

Xử án như thần

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Mại là người xã Ninh Xá, …